Cái ăn nết ở

Ở cái tuổi ngoài 3x, còn đủ cha mẹ là hạnh phúc, ai còn được ông bà thì phải gọi là hiếm – vì đều ngoài tuổi “cổ lai hy” cả rồi. Tới hàng “băm” mà còn được ông Nội nấu rồi dọn sẵn chờ về ăn mỗi ngày như tôi thì chắc là ít người có, nhiều người ghen tị. Tám mươi rồi nhưng ông vẫn hàng ngày đi bộ tới China Town mua đồ tươi về tự chế biến nấu nướng – mà nấu ra món đàng hoàng chứ không phải nấu cho có ăn – ông vẫn chê tôi nấu nướng kiểu “bần tiện” nên chẳng bao giờ để tôi làm bếp. Là con trưởng trong một gia đình Tàu di dân chịu cực khó làm lụng, nhà bên Nội tôi có thể gọi là giàu, lúc cực thịnh có vài cái mặt tiền ở chợ Quận, sung túc trong chiến tranh. Lại sống ở cái thời Miền Tây còn trù phú, chỉ cần quăng chày xuống đìa là có cá tép, ruộng lúa quanh năm chẳng thiếu món gì, nên cái bản tánh “công tử giàu sang” đã ăn vào máu thịt từ bé. Thời chiến cả nước thiếu thốn, miếng thịt cá được đem ra làm cái thang để đánh giá sự giàu sang của một gia đình – cơm phải có thịt mới sang. Nhà bên Nội tôi ăn bữa nào cũng sang trọng đến thừa mứa, và đó cũng là nguồn gốc của những nỗi đau đầy nước mắt của con cháu mãi về sau này.

 

Bỏ cái thói giàu sang đỏng đảnh khinh người qua một bên – nó cũng gây hậu quả khá là khủng khiếp rồi – chỉ riêng cái tánh ăn uống thôi cũng khiến con cháu nhiều đời không ngóc đầu dậy nổi, vì phải mãi nhặt cơm dưới đất mà ăn. Tôi nhớ hồi còn bé, mỗi lần lên mâm cơm là cứ nghe những câu chuyện mĩa mai dân miền Trung bần tiện, dân miền Bắc ăn cá gỗ. Rồi tới chuyện đem cách ăn ở của bên Ngoại tôi ra mà đàm tiếu, rằng cái dân xứ đó nghèo kiết, tới Tết chỉ biết ăn bánh tráng cuốn với lỗ tai heo ngâm dấm. Thì mấy mươi năm có là bao, đời người đủ dài để thấy bao đổi thay, giờ ông tôi chẳng có gì ngoài cái nhà ở trọ. Mỗi lần có dịp, tôi kể cho Nội tôi nghe rằng do đất lên giá, bên Ngoại tôi giờ giàu lắm, nhà cửa xe cộ chẳng thiếu thứ gì, nhưng ông chẳng còn muốn nghe tới nữa. Bên nhà Ngoại tôi dạy nết ăn rất kỹ, đứa nào làm đổ hạt cơm nào phải nhặt lên mà ăn cho sạch, ăn phải sạch bóng cái chén – và cái tánh tốt ấy cũng là đề tài để người ta mĩa mai.

 

Dân miền Đông giờ chẳng phải đi xa, vì các khu công nghiệp mọc ngay tại đất của họ. Xây nhà trọ, bán đất, làm công nhân tại chổ,…đời sống có thể gọi là tạm ổn dù cũng là làm mướn. Còn dân miền Tây thì sao? Cá tép ruộng lúa hết thời rồi, ăn mãi thì tới núi cũng sập. Đàn ông thì bỏ xứ ra đi, hoặc làm mướn hoặc làm đại ca đâm chém – máu nghĩa hiệp cũng chẳng xa với cái thói ăn cướp Lương Sơn Bạc, rồi cũng thân tàn ma dại. Đàn bà con gái ỷ vào chút sắc đẹp ngọt ngào phù sa, lên xứ phồn hoa để mà bán son phấn – họ chẳng quen với chuyện lam lũ tay chân, cứ muốn làm một “Bà Hội Đồng”. Đừng vội tự ái khi người ta chỉ thẳng vào các quán cafe mờ, các quán bia ôm, đó, con gái miền Tây đó. Hơn một chút thì cũng chỉ là điếm hạng sang, hoa hậu người mẫu gì cũng mang cái tánh cha ông để lại: sang bề ngoài, hèn bên trong. Sự ưu đãi của thiên nhiên trong một thời gian có hạn đã làm hư hỏng con người xứ sông nước Tây Nam Bộ: giàu mà làm phách, hoang phí và khinh người. Gương sáng rành rành, Hắc Bạch công tử đều là con cái của các ông Hội Đồng giàu hét ra lữa, có bao giờ nghĩ tới ngày tàn không có được cái hòm để chôn? Có của ăn thì đổ sông đổ biển, trong khi hàng bao người khác chết trong đói khổ.

 

Mỗi khi ông Nội tôi trút đồ ăn dư vào sọt rác, tôi luôn tự nhắc mình rằng “sẽ có ngày tôi sẽ đi moi thùng rác, hoặc nhận những thứ bỏ đi như thế để mà ăn”. Tôi luôn nhắc ông rằng “đời cha đổ đi, đời con nhặt lại”, nhưng tôi chẳng phải là con, và ông thì chẳng muốn được dạy khôn bởi một thằng cháu. Rồi thì ông cháu cũng đi tới một thỏa thuận: ông cứ nấu sang trọng tùy thích, đồ ăn dư bỏ cứ đóng hộp vào tủ lạnh để dành phần tôi, cuối tuần về gom hết – dù sao thì thằng cháu “đít thiếc” sẽ phải ôm hết chuyện của cha ông đã làm. Sống bên xứ Tây, có thịt cá đâu phải là sang, một con gà rẽ hơn một bó cải. Bọn em tôi chúng láu cá hơn, chở ông Nội đi ăn nhà hàng…chay liên tục và chỉ ông thấy cái sang của xứ người. Thế là ông nổi nóng thật sự, bảo: “ông nấu chay cho bọn mày xem nhé, đừng tưởng ông không biết, tụi mày qua đây mà học ông này…”. Thế là bọn chúng kéo đến xem – nhưng lén thủ sẵn đồ ăn ngoài xe, đề phòng…ăn không được món ông nấu – thực ra thì ông chẳng biết gì về các món chay. Thằng tôi lúc đầu cũng ngạc nhiên, cái bọn này tụi nó dư sức nấu nướng, hình như tụi nó tới không phải để học, mà giả vờ học nhưng…dạy ông nấu rau cải! Hóa ra vì cái sự sang trọng mà ông Nội cũng dễ bị bọn nhỏ nó dắt đi – hậu sinh khả úy!

 

Dù sao thì cũng phải công nhận rằng gia đình bên Nội của tôi rất thọ, tôi còn cả ông Cố (chú ông Nội) gần 100 tuổi – vẫn đi đứng khỏe mạnh chỉ là không đủ sức để nấu nướng cho con cháu ăn! Ông không biết tiếng Việt cũng chẳng biết tiếng Anh, còn tôi thì không biết tiếng Tàu, nên cứ Tết đến mừng tuổi ông rồi…cười thôi. Trong họ có đầy đủ các gene xấu, tiểu đường và tim mạch lẫn cao máu, kể cả ung thư, nhưng ai thoát mấy nạn đó thì rất thọ. Ông Cố “gốc” của tôi chết trẻ lúc chưa đầy 40, trong lúc đang cố cưu mang bảo vệ những người Tàu chạy loạn. Rồi từ đó cứ truyền đời một tư tưởng thiện: cứu được ai là làm ngay. Ông Nội tôi trong thời chiến làm công chức, cũng tranh thủ cứu được khá nhiều mạng người khỏi chết oan. Cả dòng họ từ bên Tàu giữ hai câu thơ là tên lót để phân biệt tầng bậc thế hệ, tới ông Nội tôi lót chữ Thiện thì giữ luôn không đổi nữa – theo phong tục Việt. Có lẽ số năm ông cứu được cho người ta sống thêm, nó bù thêm vào số tuổi, nên hai lần ông sém chết rồi vẫn sống khỏe tiếp – để kể cho con cháu nghe rằng ông đã cứu người ta trong chiến tranh thế nào, mỗi khi lên ăn cơm. Tới thời của cha tôi thì không còn chiến tranh nữa, nhưng sống ngay cây cầu oan nghiệt có biết bao lần người ta mang chó mèo còn sống tới trấn nước cho chết – để rãnh nợ. Có sẵn sữa và thức ăn, luôn cả thuốc thú y, ông cứu được rất nhiều chó mèo gà vịt, kể cả heo năm móng,…chúng sống một thời gian rồi ra đi, rất ngoan. Khi tôi ở trọ, cũng là chỗ trọ của nhiều loại thú hoang bị từ bỏ, chúng sống với tôi và đối đãi với nhau rất “người”: ăn ngủ đúng, tiêu tiểu đúng chỗ, dạy dỗ và thương yêu nhau. Thức ăn với tôi có lẽ không thiếu, vì hễ “chó vào nhà ai tức là nhà đó có ăn”, nhưng số thức ăn ông Nội “cho về vườn” thì tôi không biết làm sao để mà hốt lại, đành chuẩn bị tư tưởng cho một ngày nào đó phải đi ăn xin.

09-12-14

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s