Bà Tâm

Gà đã lên chuồng lâu rồi nhưng trong căn nhà nhỏ miệt vườn ấm cúng ấy còn một ánh đèn ngủ chưa tắt. Thiên thần bé nhỏ vẫn còn vòi vĩn thêm một câu chuyện nữa.
-Thôi ngủ đi con, cha chẳng còn truyện cổ tích nào khác, con đã nghe thuộc hết rồi còn gì!
-Vậy cha kể lại cho con nghe chuyện hồi xưa của cha mẹ đi? – đứa bé vẫn năn nỉ.
Anh mĩm cười, sửa lại cái áo ngủ của bé đã nhăn nheo, gật đầu đồng ý:
-Mình ra ngoài bàn thờ đốt cho Bà một cây nhang nhé, để Bà cùng về nghe kể chuyện với con.
Rồi anh bắt đầu kể khi bé Ân đã lên giường nằm ngay ngắn, chuẩn bị một chuyến du hành vào cõi mộng. Một câu chuyện cổ tích hiện đại mà đứa bé thích nghe nhất, và cũng là câu chuyện mà anh luôn kể bằng một giọng truyền cảm sâu lắng. Đã không dưới mười lần anh kể lại chuyện này, tươi như nó vừa mới xảy ra ngày hôm qua. Con nhỏ đã ngủ say khi anh chỉ mới vừa bắt đầu câu chuyện dài, trong giấc mơ đẹp mới thành của đôi uyên ương trẻ.
Anh chị vừa mới đến đây ở chưa đầy sáu năm, ngay sau ngày cưới, như một phong tục miền sông nước Tây Nam Bộ: ra riêng. Nhưng cái cuộc ra ở riêng này chẳng giống như bao cặp vợ chồng bình thường khác, mà đầy nước mắt, hạnh phúc ít mà đau khổ có nhiều hơn vạn lần. Khó mà kể hết nỗi đoạn trường của hai bên.
Chị là con gái cưng duy nhất trong một gia đình đông con trai ở Vinh Kim, còn anh lại là con cháu đích tôn của một dòng họ lớn có truyền thống lâu đời xứ Vĩnh Long. Anh học giỏi lại biết xoay trở làm ăn hơn là đầu tư vào sách vở, nên rất thực tế. Chị đẹp, da trắng mũi cao, nhìn sang trọng nên có biết bao chàng sinh viên theo đuổi. Nhưng chị quý cái đức tánh thật thà hiền lành hơn là lời lẽ đường mật của những anh chàng hào hoa miền khác. Họ đã vẽ ra biết bao nhiêu dự định cho tương lai chung của hai đứa, anh có đất có vốn, chị cũng lanh lẹ giỏi giang. Cuộc hôn nhân của hai anh chị đáng lẽ ra phải là một chuyện đại song hỷ của hai gia đình, nếu…
Vâng, mọi oan trái trong cuộc đời này đều bắt đầu bằng chữ nếu.
Họ gặp nhau trong giãng đường đại học Sài Gòn, sự mộc mạc chân chất gắn kết họ lại. Rồi thì những lần về quê cùng nhau, chị cảm thấy đoạn đường còn lại về nhà như xa hơn và lẻ loi. Chuyện tình yêu dù cố giấu thì cũng chẳng lâu, nhất là khi cả hai anh chị đều là con cưng trong nhà. Mọi con mắt dò xét hỏi han đổ dồn từ hai phía vào anh chị “nó mập ốm thế nào, tao muốn nhìn tận mắt thấy tận mặt…”. Cũng bình thường thôi, cha mẹ nào chẳng quan tâm lo lắng cho con mình. Con cái bao giờ cũng là những đứa trẻ bé bỏng dại khờ, bước vào tình yêu là như vào rừng cạm bẫy, rũi nó chỉ vì bồng bột nhất thời phá hỏng tương lai thì sao? Đó là một lý do chính đáng.
Cái ngày mà anh chị cho gia đình được mãn nhãn cũng phải tới. Cũng chẳng cần phải chuẩn bị công phu gì, Chị rất giỏi ứng xử nên được lòng tất cả họ hàng trên dưới. Sinh ra trong một gia đình gia phong nề nếp, lại được giáo dục tốt từ nhỏ, Chị luôn toát ra một vẻ điềm tĩnh dịu dàng mà cũng nồng ấm. Khi Chị ra về, cha mẹ Anh bắt đầu nghĩ tới những đứa cháu xinh đẹp ngoan hiền. Sự ra mắt lần đầu của Anh cũng rất ấn tượng, chỉ trong một ngày mà tất cả anh em trai của Chị đều thích. Những người anh lớn kỹ tánh nhất cũng phải vui vẻ nhắc tới anh sau khi ra về. Tới con chó dữ trong nhà cũng ngoắc đuôi mừng khi anh trở lại những lần sau.
Nhưng người ta thì không vô tư như con chó. Cha mẹ vợ tương lai cẩn thận hỏi han Anh về quan điểm tôn giáo đạo đức rồi dò hỏi Chị về tình hình gia đình bên kia, họ đã có một sự chuẩn bị kỹ hơn. Xứ Vinh Kim là “xóm đạo” còn gia đình Chị theo Chúa đã ba đời, một người cậu của Chị đã dâng hiến trọn đời làm linh mục. Mà cũng lạ, Chúa dạy đem “tin mừng” đến cho người khác chứ có ép buộc người ta phải bỏ đạo theo mình đâu. Vậy mà người ta cứ làm, bằng những cách cao đẹp cho tới hạ tiện nhất. Chúa Jesus và dâng hiến cả đời cho tình yêu của nhân loại nhưng lại bị con người nhân danh Ngài mà bóp chết tình yêu. Anh tốt người tốt tánh, có ăn học lại không nghèo, đủ các tiêu chuẩn cho con gái họ. Cuộc hôn nhân của anh chị chẳng cần “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao”, chỉ là chuyện đơn giãn như đưa lên bàn cân “hoặc mày bỏ đạo, hay là mày bỏ vợ”.
Dĩ nhiên chẳng ai lại sổ sàng trắn trợn tới mức nói ra câu ấy. Phải thừa nhận rằng việc hóa đạo cho một kẻ lạc loài chẳng đơn giản, nhưng lại là một vấn đề sống còn của những tôn giáo mới bén rễ ở cái xứ có cả ngàn năm truyền thống Phật-Khổng-Lão. Không phải ai cũng ba phải kiểu “đạo nào cũng dạy ăn hiền ở lành” hay cái loại theo đóm ăn tàn, theo cái “công” giáo để được hưởng chút bơ thừa sữa cặn. Cho nên việc truyền đạo là một nghệ thuật có bài bản rất chuyên môn. Ban đầu người ta chỉ đánh tiếng, rồi giới thiệu, rồi dẫn đi tham quan, sau đó là thăm dò phản ứng của đối tượng để có những biện pháp thích hợp. Mưa dầm thì thấm sâu, nhiều gia đình lắm khi chưng hửng: con cái họ đã đổi đạo khi nào mà họ chẳng hay biết, mưa lâu ngập úng thì cái gì cũng trôi.
Anh là một người ham học hỏi và dễ tánh, chẳng những không đưa lên một cái ô chống chế nào mà còn uống trọn từng giọt nước cam lồ tươi mát. Với anh thì Chúa cũng là một vị Bồ Tát, bố thí cả cuộc đời và thân mạng cho nhân loại, việc yêu kính một con người vĩ đại như thế là chính đáng. Thay vì gọi là Phật thì bây giờ đổi cái tên thành Chúa, thay vì gọi là Quán Thế Âm Bồ Tát thì mình gọi là Đức Mẹ Maria. Chỉ khác cái tên còn bên nào cũng hình thức rườm rà cả thôi. Thuở bé anh cũng bị bắt vào chùa làm công quả, cũng tụng kinh và lạy Phật hàng ngày, ăn chay cũng nhiều. Nên nói anh xuề xòa kiểu “đạo nào cũng tốt” là hơi vội, thực sự anh quan niệm rằng đạo nào cũng chỉ là một thứ tôn giáo, là niềm tin, chứ chả có ích lợi gì. Cái thứ vô dụng thì mang tên nào cũng vậy thôi.
Nhưng cha mẹ anh lại nghĩ khác hẳn. Với cha thì anh là đứa con trai trưởng duy nhất, là người sẽ giữ hương hỏa cho dòng họ. Truyền thống ông bà để lại, bàn thờ tổ tiên rồi đây ai sẽ giữ gìn, ai sẽ cúng cho ông ăn mỗi ngày nếu như thằng con chỉ thờ có Chúa? Biết bao gia đình vì đổi đạo đã dỡ bỏ bàn thờ gia tiên để thờ một ông Thánh ở đâu bên xứ Ít-xơ-ren nào đó. Họ đã quên hết cái ân sâu của sông núi ngàn năm để mơ tưởng về một đất nước khác. Kể cả thức ăn và đất cũng là của ai đó cho họ, chứ không phải đánh đổi bằng máu thịt và nước mắt của bao con người đất Việt.
Khác với người cha chỉ thấy những điều thực tế, Mẹ anh còn lo lắng xa hơn. Từ ngày biết Chị là người xóm đạo, mẹ anh tìm đủ mọi cách kéo anh ra khỏi “con quỷ kia”. Tình thương và sự kết nối giữa mẹ-con khác hẳn tình cha-con, Anh là cục cưng vừa là tương lai hy vọng. Cái gì của anh cũng là bảo vật, cái gối ngày bé anh nằm, cái áo cũ anh mặc, bà đều gói lại giữ gìn cẩn thận. Mỗi khi thằng con mua tặng bà cái gì thì nó cũng đều là thứ quý nhất, có giá trị nhất, dù là hàng made-in-china rẽ tiền. Bây giờ đứng trước chuyện chia xẻ nó- coi như mất – về tay một người đàn bà khác quả là một điều quá to tát mà bà chưa thể chấp nhận được.
Người mẹ tội nghiệp ấy có một thứ mà bà quý hơn hết thảy mọi tài sản trên đời, đó là cuộc sống tâm linh hạnh phúc trường tồn, khác với những của cải giả tạm của thế gian. Cuộc đời ấy được hứa hẹn bằng những công đức mà người mẹ đã vun trồng cả đời nơi cửa Phật. Bà đã biết bao lần đi chùa lạy phật đốt nhang, tụng biết bao nhiêu là bài kinh, hằng đêm lần chuỗi tụng kinh niệm Phật, để làm gì chứ, để mà vì ai chứ? Người mẹ ấy đã từng hạnh phúc biết bao nhiêu khi nhìn đứa con nhỏ lạy Phật, đã rơi nước mắt khi mới chưa đầy mười tuổi đã thuộc được một bài kinh lục bát. Rồi thì bà thấy cái tâm tánh nó rất hiền lành, ăn chay đều đặn hàng tháng, siêng năng tự nguyện đi chùa,… bà chắc mẫm là thành công rồi, nó còn trẻ mà công đức chắc còn tiến xa hơn bà lắm. Vậy mà ở đâu cái thứ nghiệt chướng kia lại đến quyến rũ con bà bỏ đạo, đốt sạch cái ước mơ cuối đời của bà mẹ tội nghiệp này.
Lời lẽ không xong thì đến nước mắt, cha mẹ anh đã dùng hết mọi cách để cho anh hiểu tấm lòng của bậc phụ huynh. Cha nói dứt khoát “không!” còn mẹ anh dọa sẽ tự tử nếu anh cứ đòi cưới. Trên đời này còn biết bao nhiêu là con gái khác, sau Anh không đổi ý lại chứ. Thái độ phản đối của cha mẹ Anh ngày càng mạnh, khiến Chị không dám đến nhà nữa. Bên nhà Chị cũng kiên quyết giữ vững lập trường, con gái của họ cũng là càng vàng lá ngọc, làm sao họ có thể cho nó về làm dâu ở cái nơi mà nó không có được tình thương. Họ cũng không thể gả cho “ngoại đạo” được.
Nhưng Anh Chị quả là nặng duyên dày nợ. Sự ngăn cấm đôi bên càng làm tình cảm họ bùng phát mãnh liệt. Nhiều lần họ nghĩ đến cái chết như trong truyện Romeo-Juliet thuở nào nhưng rồi anh chị cũng khuyên nhau là nên sống. Tự tử là một trọng tội, dù là bên Phật hay Chúa. Nhưng họ sống mà không còn biết mình đang sống nữa, vật vờ quên mất ngày tháng trong nổi khổ Ái Biệt Ly. Chị ốm xanh xao, đi như mất hồn theo những hành lang nhà thờ, thường ôm chân Mẹ Maria mà khóc. Tượng Đức Mẹ đưa hai tay như đón nhận nỗi đau vô bờ bến của thế gian, nhưng nào có xoa dịu nỗi đau của Chị. Người ta đóng đinh ghim cứng Chúa trên cây rồi, vậy mà người ta còn đóng thêm nhiều cây đinh khác vào tim Chúa suốt hằng bao thế kỹ, những cây đinh có móc nhân danh những điều cao đẹp.
Rồi một tối nọ, người ta tìm thấy chị nằm bê bết đầy máu me dưới chân tượng Chúa. Chị tự lấy roi đánh lên lưng rồi dùng dao lam cắt lên khắp tay chân, có lẽ cái đau ngoài da thịt chẳng thể át được nỗi đau đớn trong tim.
-Thế rồi thế nào nữa, rồi mẹ có chết không? -đứa con ngây ngô hỏi.
-Mẹ chết rồi thì ở đâu có con chui ra? – Chị ôm đứa con vào lòng, trên tay vẫn còn những vết sẹo ngang dọc thuở nào.
Chị được cấp cứu kịp thời, bác sỹ không thể tin được những vết thương bằng roi khắp người là do Chị tự đánh mình, thế là Công An vào cuộc. Xưa nay đạo Chúa vẫn là cái gai trong mắt giai cấp vô thần, chỉ cần một chứng cớ thế là cả Xóm Đạo bị phiền nhiễu không biết bao nhiêu lần. Chuyện người tự tử trong nhà thờ tuy không thành nhưng cũng đánh một đòn quá đau đớn lên cái danh dự và chức phận của gia đình. Sau khi thoát chết, Chị đổi tánh hẳn, trở nên ghiền cảm giác đau đớn: chị tra tấn bản thân bằng bất cứ thứ gì kiếm được kể cả dùng móng tay cào lên thân mình. Chị gào lên trong cơn hành xác “hãy để con chịu đau đớn thay Người, xin hãy tha thứ cho những người còn lại, đừng bắt chúng phải đau khổ thêm,..”. Chị căm thù tất cả anh em cha mẹ, căm ghét cả cái nghĩa vụ “loan báo tin mừng”, hận cả Chúa bị đóng đinh bất lực trên thánh giá.
Ban đầu anh em trong nhà trói tay chân Chị lại để ngăn không cho chị tự hành hạ bản thân, nhưng chị vẫn giãy giụa để đập đầu vào tường. Người ta phải nhét cả giẻ vào miệng để chị không cắn lưỡi. Dù sao rồi con người vẫn còn một chút nhân tánh, chẳng lẽ để chị sống hết đời còn lại thế này sao, gia đình bèn nghĩ tới một sự hòa giải, một bước lùi để né đòn tự hủy do chính con mình đánh ra. Một bước lùi bằng ba bước tiến, người ta tính toán đến những điều xa hơn nữa. Thế là gia đình bên Chị đồng ý cho đám cưới diễn ra mà không bắt Anh phải bỏ đạo, như một ngoại lệ hiếm hoi.
Sau khi hai bên ngồi vào thương lượng, những vấn đề lặt vặt được đưa ra như sẽ tổ chức đám rước dâu ở nhà trai nhưng làm lễ cưới trong thánh đường, hoặc chuyện con cháu sẽ được quyền tự chọn theo cha hay mẹ, vân vân và vân vân. Cha mẹ Anh bèn đi hỏi ngày lành tháng tốt để làm đám cưới, ông bà còn cẩn thận lấy tuổi của hai đứa đi hỏi thầy bói xem chúng nó cưới nhau sau này thế nào. Chẳng biết ông ứng bà hành kiểu gì, tay thầy bói miệng thúi mắm phán một câu xanh dờn: Khắc nhau lắm, từ chết tới bị thương! Tức mình, hai ông bà tìm tới một Cô Đồng khác miệng thơm phức mùi nước hoa xịt toalét thì còn nhận được một câu còn thê thảm hơn “hình khắc tử mạng, tuổi cô kia khắc con ông bà, nhẹ thì táng gia bại sản, nặng thì chết chắc,..”. Sách viết thế mà, nói sao khác được, mười người cũng phán vậy thôi.
Tội nghiệp hai đứa nhỏ đang hí hửng chờ cha mẹ về để biết ngày hạnh phúc. Thấy đứa “con dâu yêu quái” đang ngồi cạnh “thằng con yêu quý” của mình, bà mẹ đội nhiên đùng đùng nổi giận. Rồi bà tuôn ra một tràng:
– Không có cưới hỏi gì hết! Cô đã dụ dỗ con tôi bỏ đạo, bỏ ông bà tổ tiên, bây giờ cô tính hại chết con tôi nữa hay sao chứ? Mạng của cô cao lắm, con tôi mà cưới cô thì nó chỉ có chết. Cô làm ơn là phước tha cho nó đi mà, tôi van cô,…
Thế rồi bà như được dịp, kể lể ra biết bao nhiêu tội lỗi. Nào là từ ngày quen cô, con trai tôi chẳng còn ngó ngàng gì tới cha mẹ nó hết. Điện thoại cho cô mấy cái thẻ nó không tiếc, gọi cho tôi nó tiếc từng lời. Tôi nuôi nó từ bé chẳng để ốm đau bệnh hoạn vậy mà từ khi quen cô nó chỉ có ốm đi. Thầy bói nói đúng mà, cưới cô rồi con tôi chỉ có chết thôi…
Cưới có chết không thì chưa biết, nhưng nghe xong mấy lời đó thì hai Anh Chị chỉ muốn uống thuốc rầy chết ngay lúc đó cho xong. Chị khóc òa ôm mặt chạy đi còn anh đứng chết trân một lúc cũng chạy đuổi theo. Rồi những ngày sau đó quả là địa ngục đối với cả hai người. Mẹ anh khóc hết nước mắt khuyên anh đổi ý đi, bà chỉ có mình anh thôi mà, anh mà có bề gì thì bà biết ăn nói thế nào với tổ tiên đây.
Thói thường thì ở quê người ta trọng tiếng nói của ông thầy bói còn hơn tất cả những ông thầy khác, kể cả thầy thuốc và thầy chùa. Chuyện hên xui may rủi đặt hết vào lời phán của “ông thầy”. Đám cưới đám hỏi đám ma, xây cất hay bất cứ thứ gì hễ quan trọng một tí là phải đi hỏi “thầy”. Người ta tin rằng điều may mắn có thể đạt được bằng cách nghe lời quỷ thần, hoặc là van xin Trời Phật. Càng tham cái điều lợi thì người ta càng sợ “cãi lời” thiêng liêng, dù có làm đau lòng chết ai đi nữa cũng mặc kệ.
Nhưng không phải tất cả mọi người trong nhà của Anh đều tin vào thầy bói. Còn một người dám đứng ra bảo vệ Anh Chị, dám tuyên bố “nếu cha mẹ mày không làm, thì tao sẽ làm đám cưới cho hai đứa mày. Tao là má tụi nó mà”. Và đó cũng là niềm hy vọng duy nhất cuối cùng của hai anh chị.
Nếu Bà Tư Tâm không lên tiếng thì chẳng ai biết bà có mặt trong cái gia đình ấy. Bà sống lặng lẽ đơn giản chẳng động chạm ai. Thời còn chiến tranh bà là một y tá dũng cảm, không sợ bom đạn nên đã từng liều mình cứu thương cho biết bao nhiêu chiến sỹ. Chồng và ba đứa con lớn hy sinh trong chiến tranh với tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công trên bàn thờ. Bà cũng có danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng nhưng chưa bao giờ khoe ra vì lý do “tao đã chết đâu?”. Hòa bình trở lại, người ta tranh nhau giành công thì Bà cấm mấy đứa còn lại ra làm chính quyền: “mình có công thì chỉ nên hưởng lộc thôi, để người có tài họ lãnh đạo”. Tuy chẳng có chức vị gì nhưng cấp Tỉnh gặp Bà cũng phải chào hỏi lễ phép.
Sau khi mấy đứa con giác ngộ Phật Pháp, chúng nghĩ ngay tới chuyện “đem Phật pháp đến cho Mẹ là đại hiếu”. Thế là kinh kệ băng đĩa chúng thi nhau mang về bắt bà đọc tụng, chúng dạy Bà phải niệm danh hiệu Phật này Phật kia thế này thế nọ. Chúng còn đem Bà lên chùa để “quy y rồi không sợ đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh”. Bà không từ chối gì hết, ai ăn gì bà ăn nấy, ai chở thì bà cũng đi chùa. Nhưng chẳng ai thấy mà tự giác tụng kinh niệm Phật bao giờ. Thôi kệ, ít ra thì Bà cũng quy y rồi.
Mặc dầu bà nói ít nhưng lời nói rất có giá trị. Một hôm Bà gọi tất cả con cháu lại, nói rằng bà yếu rồi, chẳng biết ra đi khi nào nữa. Bà muốn ăn đám cưới của thằng cháu Nội đích tôn trước khi “theo Phật”. Tuy cái yêu cầu chính đáng của Bà như một mệnh lệnh có thể ngăn sông lấp bể, nhưng vẫn còn mấy cái núi khó thể leo qua.
Một buổi sáng, Bà bảo Anh chở đến chổ một ông thầy Pháp Số đáng tin tưởng. Ổng nói theo sách rằng tuy mạng có khắc đó, nhưng còn phải xem nặng nhẹ thế nào nữa. Khắc cũng có nhiều loại khác nhau, có kiểu chỉ là khắc khẩu hoặc chỉ là tai nạn chãy máu chứ không chết người. Vì trong khắc có sinh, trong chín đường tử phải có một lối sinh. Nếu khéo léo có thể dùng nhiều cách để giảm nhẹ cái xấu và lách lọt vào cửa sinh an toàn. Ông nhấn mạnh rằng đức có thể cải số, không có gì là không làm được.
Khi mọi người còn lấn cấn chuyện số mạng thì Anh bắt đầu tập tành uống rựu. Gia đình tưởng anh mượn rựu để quên tình, nên mới đầu còn khuyến khích, dù sao thì quên đi vẫn hơn. Thói thường ai càng hiền thì nhậu vào càng quậy. Nào ngờ có một lần anh uống dữ, chẳng biết có say thật không mà xách xà-beng vào chùa đòi đập hết mấy tượng Phật. Các thầy chạy mất dép hết còn anh vừa đập vừa chưởi “Ông dạy người ta cái gì, Từ Bi ở chỗ nào? Ai cũng là cái thứ hèn nhát nhắm mắt tụng niệm để lo lót cho bản thân, Vô Ngã ở chỗ nào chứ? Đạo của ông còn không thể bảo vệ được cái thân ông thì làm sao cứu tôi thoát khổ đây?”. Anh la hét đập phá tang hoang cái nơi mà khi xưa anh từng theo mẹ khúm núm thắp nhang lạy Phật, cái nơi mà anh chỉ dám nín thở dạ vâng. Gia đình chết điếng, kêu gọi cả chục người nhảy vào mới đè trói được. Trong cơn say anh mạnh như một con trâu mộng.
Người ta bảo rằng anh bị Ma nhập nên mới dám như thế. Ma Quỷ mượn thân anh để trả thù nhà Phật. Con Ma đó cũng đỡ cho anh và gia đình một “tội tày trời”.
Một ông thầy Pháp được mời tới, vừa mới nhìn thấy anh thì ông thầy chắp tay vái nói “đây là Long Thần Hộ Pháp nhập quở, chứ không phải là ma quỷ bình thường” mọi người mới ngớ ra. Rồi thì ông lập pháp đàn để “mời” ông Thần về thương lượng. Khi nhang khói mờ mịt, chuông mõ inh ỏi thì đột nhiên Bà Tâm giật bắn người, đứng bật dậy khuỳnh khuỳnh cầm cây gậy múa võ. Bà hét lên, giọng ồm ồm:
-Hai đứa nó, hừ – chỉ vào Anh Chị – có lần vào chùa cầu duyên, hừ. Người nam kia đã giải thích rõ là Phật dạy cắt ái lìa duyên nên không thể xin Ngài được, hừm. Người nữ kia mới đến cầu xin ta gia hộ, và hứa sẽ gia trì bảo vệ Phật Pháp sau khi thành thân, hừ. Ta là Long Thần Hộ Pháp, hừ, ta đã nhận lời, hừ, ai dám ngăn cản duyên sự này, hừm hừm?
Cha mẹ của Anh quỳ lạy mọp mọp liên tục như tế sao, luôn miệng hứa từ rày hổng dám cản trở nữa thì ông Thần mới chịu thăng. Bà Tâm té ào xuống ghế mặt lơ ngơ cũng như hai đứa nhỏ, chẳng hiểu chuyện gì đã xãy ra.
Dù có xãy ra thêm điều gì nữa thì đám cưới cũng được tổ chức ngay sau đó chưa đầy một tháng. Hai Anh Chị như bừng tỉnh một cơn ác mộng lại rơi vào một giấc mơ khác, lần này là mộng đẹp, bất ngờ cũng như lúc tai họa đến. Đám cưới xong thì Anh Chị phải ra riêng ở ngay – như lời ông thầy Pháp có nói – như một giải pháp để giảm nhẹ hình khắc của anh, mà cũng để cho anh chị “dễ thở” hơn. Anh Chị có mang hậu lễ đến tạ ơn thầy Pháp thì ông từ chối thẳng, bảo rằng về nhà mà cảm ơn Bà của anh đấy.
Sau đám cưới chưa được nửa năm, Bà Tâm ra đi thanh thản và yên lặng sau một giấc ngủ trưa. Bà nhón gót nhẹ nhàng về với Phật trước khi những thầy chùa kịp làm huyên náo bằng những lời kinh sáo rỗng, bằng những lời niệm Phật vô hồn. Bà được hỏa táng theo di nguyện cùng với những rất nhiều huy hiệu cấp nhà nước mà người ký chúng có lẽ cũng đã chết từ lâu. Khi soạn lại tài sản ít ỏi, gia đình tìm thấy những tập sách Phật pháp có giá trị của thời những năm Sáu Mươi, khi phong trào đấu tranh của Phật tử lên đến đỉnh điểm. Người ta còn tìm thấy bà trong những bức ảnh Phật tử xuống đường vào những ngày máu lữa ấy. Bà đã bảo vệ và cứu sống rất nhiều người trong bom đạn chiến tranh, chống lại quân thù. Nhưng cái thành tích đẹp nhất của đời bà là cứu sống nhiều hơn hai sinh mạng tội nghiệp, khỏi sự diệt chủng của tham sân si, ngay trong thời bình.
Căn nhà của Anh Chị có một phòng trang nghiêm để thờ. Có bàn thờ Chúa và Đức Mẹ một bên, bên kia thờ Phật và Quán Âm Bồ Tát với bài vị tổ tiên hình ông bà ở dưới. Ở giữa và ở dưới thấp, nơi vị trí trang nghiêm và gần gũi nhất, là hình Bà lộng giữa hai vị Long Thần Hộ Pháp: vị mặt đỏ tượng trưng cho đức tánh can đảm và vị mặt trắng đại diện cho trí tuệ và tình thương. Biết bao lần đi chùa tạy Phật tụng kinh cũng không bằng được Bà dạy cho thế nào là Bi Trí Dũng, thế nào là Vô Ngã. Bằng những lời giáo huấn vô ngôn.
Năm sau, Chị hạ sinh em bé. Anh đặt tên con là Tâm Ân, vừa có nghĩa là hàm ơn một tấm lòng, vừa là biết ơn Bà của anh. Đứa trẻ ấy là tấm huy chương cuối cùng đẹp nhất, là phần thưởng cho cuộc chiến đấu thầm lặng dữ dội cả đời Bà và mấy trăm năm của dân tộc. Bà đã thắng trong trận chót.
Đầy tháng Anh Chị mang Bé tới nhà cha mẹ. Nhìn đứa cháu đẹp như thiên thần, mọi người đều vui vẻ, chẳng ai còn nhắc đến những chuyện sai lầm đau đớn đã qua.
.Featured image

hình: http://www.baomoi.com/Saint-Young-Men-khi-Chua-va-Phat-cung-vi-hanh/152/12606121.epi

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s