Dượng Cảnh

Hồi đang học đại học thì được tin dượng Cảnh mất vì ung thư gan. Đó là một cái tin báo vu vơ lọt vào tai tôi không chủ ý, vì ngay cả người nói cũng chẳng quan tâm, chỉ buồn miệng nói ra. Vai “dượng” tức là ngoại tộc, lại cũng chẳng phải trực hệ với bên họ nhà tôi nên cũng chỉ là một cái tin báo, chứ không ai có nghĩa vụ viếng thăm hay tiếc thương gì. Nhưng tôi biết dượng Cảnh hơn vài người trong nhà, dù là vai vế con cháu xa. Giữa hai người bà con gần như xa lạ, lại có cái gì đó thông cảm với nhau, vì xét cho cùng thì ai cũng có một chút liên quan. Câu chuyện cuộc đời của dượng Cảnh cũng bình thường như nhiều người khác từng sống trong cái xã hội thiếu tình thương này.
Tuy là vai Dượng, nhưng già gần bằng ông Nội của tôi, vì lấy người chị thứ Hai nên người ta gọi là Dượng Hai, thay vì gọi tên. Người Triều Châu sống trên núi, giỏi trồng trọt, khi qua Việt Nam thì họ nắm các khâu chủ yếu trong ngành nông nghiệp: hột giống, phân bón, tiêu thụ,..
Một nhánh lớn, vẫn còn giữ cái nghề tổ tiên là trồng và ướp trà. Có thể kể tên rất nhiều hiệu trà nổi tiếng như Cẩm Ký, Huê Ký, Lệ Ký,..mà họ thường lấy các biểu tượng dễ nhớ trên bao bì như con chuột, con khỉ, xe hơi,..Tiệm trà Dượng làm lấy con khỉ làm nhãn hiệu, thường được người ta gọi là trà Con Khỉ hơn là cái tên viết bằng ba thứ tiếng Việt Miên Tàu mà ít ai biết đọc.
Dượng làm công ở cho tiệm này từ khi còn thanh niên, được gọi là có chữ vì đậu được Tú Tài đôi nhưng bỏ dỡ khi Cha dượng mất. Tuy mang họ Việt nhưng dòng máu Kh’me trội hơn nên Dượng đen cháy, rất khỏe mạnh và siêng năng nên được ông chủ cho ăn ở và áo quần tử tế. Công việc cũng chẳng nặng nhọc gì lắm, những bao trà và hoa lài tuy to nhưng cũng không nặng như bao lúa, chỗ làm của Dượng cũng là ước mơ của nhiều người thời ấy. Lương tháng bao nhiêu thì Dượng mang về cho mẹ nuôi mấy đứa em, sống ở cuối giồng đất nơi mà tất cả đất đai đã bán còn sót lại.
Người Kh’me ở Tây Nam Bộ trước đây có rất nhiều ruộng đất, cho tới khi người Việt người Hoa di dân vào. Những sắc dân mới này siêng năng hơn nên có tiền, và họ cũng có rất nhiều thủ đoạn để giành lấy đất từ tay dân bản địa. Bằng cách cho vay bạc lúa, bán lúa giống, bán vàng,..dần dần người Miên trao bớt đất lại nhưng họ vẫn sống sung túc an nhàn. Rồi thì Pháp Mỹ vào, rồi thì chiến tranh, những nơi hoang vắng trở thành vùng “mất an ninh”. Những người Miên bán đất lấy vàng, rồi ăn hết vàng lại quay ra làm công cho người Tàu người Việt, cứ thế họ ngày càng nghèo khổ. Hết chiến tranh, người nào còn chút ruộng lại bị “hợp tác xã hóa” lần nữa, xem như mất trắng. Ông dượng Hai này được sinh ra khi đất đai chẳng còn gì, rồi cũng phải chịu thân làm mướn như bao số phận khác.
Bản chất thật thà lương thiện nên ông bà chủ ngày càng tin tưởng, cho ông vào làm ở cả những nơi “cấm người lạ vào”. Vì người Tàu ướp trà theo các công thức gia truyền, bí mật chẳng bao giờ để lọt ra ngoài, để lấy được những món ấy, người ta chỉ có một cách là gả con vào nhà của họ để mong học được chút bí quyết gia truyền. Thế nhưng người Tàu cũng dùng quan hệ huyết thống để kết nối với nhau, gia đình này gả con cho gia đình kia để giữ quan hệ đoàn kết làm ăn, rất ít khi gả cho người ngoài. Cho nên cái kế “hy sinh đời cha, củng cố đời con” cũng ít khi có tác dụng.
Hơn nữa, người Tàu luôn cho mình là thượng đẳng và coi người Việt người Miên rẽ mạt. Người Tàu chỉ cưới cho con trai những cô gái đẹp trong vùng, nhưng hiếm khi nào gả con gái cho gia đình Việt Miên. Nhưng cũng có một vài, và dượng Cảnh là trường hợp hiếm hoi.
Cô Hai người khô đét như que củi, cũng đen như lá trà bị sấy. Hồi nhỏ gian khổ trên rừng núi Bảo Lộc trồng trà nên bị chứng phong thấp mạn tính, nên già sạm đi sớm hơn tuổi. Thời mới gây dựng sự nghiệp, ông bà Hưng Ký muốn giữ con ở lại làm lao động chính nên không gả sớm, rồi thời gian trôi qua mau, nhan sắc cô Hai cũng chẳng còn gì, cũng chẳng ai còn hỏi nữa. Ở miền quê, quá 20 đã gọi là ế, cô Hai đã qua tuổi 30 lâu rồi, những mơ ước về một gia đình “môn đăng hộ đối” cũng dần dần hạ thấp xuống, thấp hơn, thấp hơn nữa, cho tới một người làm công như chú Cảnh.
Đám cưới cũng lớn như bao chủ tiệm Tàu khác, pháo đỏ cũng nổ mấy thước nhưng không có cảnh rước dâu vì Dượng phải ở rể cho ông bà chủ tiệm. Có đầy đủ lý do và cũng chẳng ai cấm người ta nói với nhau rằng thằng Cảnh nó bán thân vì ham giàu, rằng cô dâu nhìn như con khỉ già đeo vàng, như cái nhãn hiệu trà Hưng Ký. Có người còn ác miệng nói chú rể còn trẻ quá so với cô dâu, chắc thế nào nó cũng bòn tiền cho vợ bé ăn. Tuy nhiên người ta chỉ nói với nhau cho sướng miệng, chứ chẳng ai thấy điều gì khác lạ hơn sau ngày đám cưới. Chú Cảnh bây giờ trở thành Dượng Hai, nhưng cũng chẳng có gì mới lạ sau ngày đám cưới: cũng vác bao tải, cũng phơi rang trà, cũng tất bật như một người công ở mọi khi. Người ta chẳng bao giờ thấy Dượng đứng ở cửa tiệm bán trà hay quản lý công việc gì mới.
Tuy chẳng ai biết Dượng sống trong nhà ấy thế nào, chịu đựng hay sung sướng ra sao, nhưng có một điều cầm chắc rằng Dượng không được cầm tiền và cũng chẳng có quyền hành gì. Dù là chồng của người chị cả nhưng trong mắt tất cả con cháu trong nhà đó chỉ xem Dượng là một ai đó có mặt trong nhà, chỉ hơn người làm công một tí. Mỗi năm nhà má dượng Cảnh cũng có bánh Trung Thu, lạp xưởng Tết, tiền lì xì,.. nhưng cũng không thấy khá giả hơn chút nào.
Cô Hai cứ bệnh hoài, lúc đau nhức thì gắt gỏng chưởi bới Dượng còn thua người ở. Ông bà Hưng Ký trông chờ cháu ngoại lâu rồi mà vẫn chẳng thấy gì, người ta đổ thừa tại trứng của Dượng nó chết, tinh của dượng bị khô. Nhiều người bày cho nhiều cách, kể cả cho cô Hai ngủ với người khác, rồi cũng chẳng tới đâu. Chứng phong thấp nó đã ăn vào tới trong xương tủy cô Hai rồi.
Rồi thì ông bà Hưng Ký cũng già yếu, để lại cơ ngơi làm ăn cho đứa con trai, Cô Hai được chia một tiệm tương đối lớn ở chợ xã. Lúc Cô Hai lên cơn đau không đứng bán được thì Dượng cũng được giữ chút tiền, nhưng Dượng Hai chỉ mua rựu uống cho say xỉn rồi ngồi khóc như đứa bé chứ cũng chẳng dám quậy phá la hét gì. Tiền hao tốn để chạy chữa cho cô Hai ngày một nhiều, nhưng mà rồi thì cũng phải chịu. Cô Hai chết đi thì nhà cũng chỉ còn cái bảng hiệu và cái mặt tiền trống hoác. Đó là công sức cả đời làm công ở của Dượng Hai, nên người ta để cho Dượng quyền thừa kế. Tháo cái bảng hiệu xuống, ông cho người khác mướn để bán thuốc Tây, ông sống trên gác. Chút tiền đó đủ sống, hôm nào có dư thì ông mua rựu uống, cũng hiền lành chẳng hại gì ai. Người ta đã dạy cho ông phải khuất phục, phải nhẫn nhục để mà sống, một cuộc sống thiếu nhiều giá trị của con người.
Rồi một ngày nọ, nhưng nhiều người kể lại, ông cảm thấy đau bụng. Như thường lệ ông cũng cố chịu đựng như ông đã làm cả đời. Nhưng rồi cơn đau cứ tăng dần mà cái bụng cứ căng ra, cho tới khi đau quá ông phải nằm một chổ rên rỉ.
Người ta nghe tiếng ông rên la trên gác, gọi xe đưa đi bệnh viện thì phát hiện ra ông đã ung thư gan thời kỳ chót, chỉ còn sống được mấy ngày nữa thôi. Trên giường bệnh, trong một lần đau chót, ông hét lên một tiếng vang rền cả khu dưỡng đường, làm giật mình cả những con chó đang ngủ tru vang cả lên.
Đó là lần duy nhất và cuối cùng ông hét lên, để rồi ra đi thanh thản ngay sau hơi thở ra ấy.
Theo di nguyện, căn nhà mặt tiền từng là cửa tiệm trà Hưng Ký ngay chợ xã, được giao lại cho mấy anh em của ông Cảnh. Sau bao nhiêu năm, cuối cùng họ cũng lấy lại được một cơ sở làm ăn, được làm chủ một cửa tiệm nổi tiếng của người Tàu.
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s